Chuyển tới nội dung chính

Nhìn lại định mệnh của hãng phim ảnh Kodak

Nhiếp ảnh truyền thống (máy cơ chụp phim) vào đầu thế kỷ 21 đã bị thay thế bởi nhiếp ảnh kỹ thuật số (digital photography) sau 200 năm tồn tại (từ đầu thế kỷ 19). Đó là quy luật tiến hóa. Và tiêu biểu cho thời nhiếp ảnh truyền thống là thương hiệu Kodak (Eastman Kodak) của Mỹ ra đời vào năm 1888. Khi nhắc đến Kodak, người ta thường nghĩ ngay đến phim chụp ảnh, đặc biệt là phim ảnh màu. Đối thủ chính của Kodak trong thế kỷ 20 là hãng Fujifilm của Nhật Bản (ra đời năm 1934).

Kodak đã phải đối đầu với cuộc cách mạng kỹ thuật số. Hậu quả là ngày 19-1-2012, Kodak đã tuyên bố xin được bảo hộ phá sản.

Cuộc đối đầu định mệnh của Kodak đã được cây bút công nghệ lão luyện Trevor Mogg nhìn lại trên trang BGR ngày 1-9-2026.

Vào thập niên 1970, khi đang thống trị thị trường phim chụp ảnh và cung cấp những sản phẩm định hình cả một thế hệ, Kodak, có trụ sở tại New York (Mỹ), đã ngần ngại đón nhận nhiếp ảnh kỹ thuật số. Lý do là chất lượng hình ảnh thời đó còn kém và quan trọng hơn cả là công nghệ này đe dọa trực tiếp đến mảng kinh doanh mang lại lợi nhuận khổng lồ của họ. Và nghiệt ngã thay, trớ trêu thay, Kodak đã phải nếm đòn “gậy ông đập lưng ông” trong cuộc đối đầu sinh tử với nhiếp ảnh số, bởi chính Kodak có thể nói là đơn vị đã phát minh ra công nghệ này.

Trevor Mogg viết rằng: Câu chuyện bắt đầu vào năm 1975, khi Steven Sasson – một kỹ sư 24 tuổi làm việc tại Kodak – được giao một nhiệm vụ tưởng chừng khá nhỏ nhặt: tìm hiểu xem liệu một loại cảm biến điện tử mới có tên là CCD (charge-coupled device, thiết bị tích điện kép) có mang lại ứng dụng thực tiễn nào hay không. Với trí tò mò và tinh thần ham học hỏi, Sasson đã chế tạo ra thứ mà sau này được công nhận là chiếc máy ảnh kỹ thuật số (digital camera) đầu tiên trên thế giới. Tất nhiên, thiết bị này khác xa so với những chiếc máy ảnh kỹ thuật số công nghệ cao mà người ta đang sở hữu ngày nay. Chẳng hạn, thiết bị thô sơ này phải mất tới 23 giây mới ghi được một bức ảnh vào băng cassette (đúng vậy, ghi vào băng từ); hơn nữa, ảnh chụp chỉ là ảnh đen trắng với độ phân giải khiêm tốn 100×100 pixel. Sau khi xem xét kết quả, đội ngũ lãnh đạo cấp cao của Kodak không mấy ấn tượng và đi đến kết luận rằng người tiêu dùng sẽ ưa chuộng ảnh in truyền thống hơn là những bức ảnh kỹ thuật số có chất lượng kém.

Tuy nhiên, khi chất lượng hình ảnh kỹ thuật số dần được cải thiện, Kodak bắt đầu nhận thức rõ ràng rằng nhiếp ảnh kỹ thuật số đang đe dọa nghiêm trọng đến mô hình kinh doanh vốn mang lại lợi nhuận khổng lồ của hãng – một mô hình bao trùm toàn bộ quy trình nhiếp ảnh, từ sản xuất máy ảnh, phim chụp cho đến các dịch vụ tráng rửa và in ảnh. Dẫu vậy, Kodak hiểu rằng họ không thể phớt lờ công nghệ này, nên vẫn tiếp tục nghiên cứu và phát triển nó để xem liệu công nghệ này có thể mang lại những tiềm năng gì.

Đến năm 1989, nhiếp ảnh kỹ thuật số rõ ràng đang trên đà phát triển, và dự đoán của Sasson (kỹ sư của Kodak)  vào năm 1975 rằng công nghệ này sẽ thách thức nhiếp ảnh truyền thống trong vòng 15 đến 20 năm tới ngày càng tỏ ra chính xác. Giờ đây, thách thức đặt ra cho Kodak là liệu họ nên dốc toàn lực vào nhiếp ảnh kỹ thuật số, dù thừa hiểu điều đó có thể làm suy yếu mảng kinh doanh phim ảnh đang đầy lợi nhuận của mình, hay nên chần chừ với công nghệ mới và cố gắng bảo vệ mảng kinh doanh phim ảnh càng lâu càng tốt.

Trong khi các tập đoàn lớn như Sony và Canon phát triển công nghệ nhiếp ảnh điện tử suốt thập niên 1980, Kodak cũng theo đuổi các công nghệ nhiếp ảnh kỹ thuật số của riêng mình. Chẳng hạn, vào năm 1989, Sasson cùng đồng nghiệp Robert Hills đã chế tạo một chiếc máy ảnh DSLR (máy ảnh phản xạ ống kính đơn) kỹ thuật số độ phân giải 1.2 megapixel, được trang bị tính năng nén ảnh và sử dụng thẻ nhớ; bước tiến này đã đưa máy ảnh kỹ thuật số đến gần hơn với hình dáng mà chúng ta thấy ngày nay. Chiếc máy ảnh của Sasson thực tế đã đủ chất lượng để đưa ra thị trường, nhưng trong một quyết định mang tính bước ngoặt, Kodak lại chọn không sản xuất nó, có lẽ vì lo ngại rằng sản phẩm này sẽ làm tổn hại đến doanh số bán phim chụp ảnh của họ.

Trong thập niên 1990, Kodak tiếp tục phát triển công nghệ kỹ thuật số song song với việc duy trì sự ủng hộ mạnh mẽ cho mảng kinh doanh phim ảnh – lĩnh vực vẫn đang mang lại lợi nhuận lớn. Có thể nói, công ty dường như đang chuẩn bị cho một tương lai mà chính họ lại có lý do để trì hoãn. Tuy nhiên, những thay đổi diễn ra quá nhanh, và cuối cùng, Kodak buộc phải hành động.

Vào đầu thập niên 1990, các công ty khác đã tung ra thị trường những mẫu máy ảnh kỹ thuật số đời đầu; chẳng hạn, Fujifilm ra mắt chiếc FUJIX DS-X vào năm 1989, và mẫu Model 1 của Dycam cũng xuất hiện ngay sau đó một năm. Xu hướng chuyển dịch sang nhiếp ảnh kỹ thuật số đang tăng tốc, buộc Kodak phải có động thái phản ứng. Hãng đã thực hiện điều này vào năm 1991 với việc ra mắt Hệ thống Máy ảnh Kỹ thuật số Chuyên nghiệp (Professional Digital Camera System, DCS). Tuy nhiên, DCS vẫn mang nặng dấu ấn từ nền tảng nhiếp ảnh analog truyền thống của Kodak: dù có khả năng chụp ảnh độ phân giải 1.3 megapixel, thiết bị này thực chất được chế tạo như một bộ phận gắn thêm cho chiếc máy ảnh phim Nikon F3 đã qua cải tiến.

Thiết bị nhiếp ảnh số Kodak DCS 420, một chiếc máy ảnh digital SLR 1.2 megapixel dựa trên body máy ảnh cơ Nikon F90. (Nguồn: Internet. Thanks).

Thực tế là trong hầu hết thập niêm 1990, lĩnh vực kinh doanh phim chụp ảnh vẫn còn mang lại lợi nhuận, trong các hãng máy ảnh đang tiếp tục hoàn thiện công nghệ nhiếp ảnh số. Và thời điểm của cái mới đã tới vào năm 2002 với những chiếc máy ảnh số tốt hơn và rồi đã vượt qua doanh số của máy ảnh phim. Ngay cả những chiếc máy ảnh số của Kodak cũng có kết quả tốt, chiếm hơn 20% trên thị trường Mỹ vào năm 2004.

Định mệnh đã đuổi kịp Kodak. Trong khi đang đạt được những dấu hiệu tích cực trong lĩnh vực nhiếp ảnh số, lĩnh vực nuôi sống và làm nên Kodak là phim ảnh đã lâm vào khủng hoảng rồi sụp đổ. Doanh số bán phim toàn cầu trong quý 3-2005 sụt giảm 20%.

Trevor Mogg nhận định: Thật là trớ trêu, Kodak không hề làm kém trong mảng kỹ thuật số, nhưng mô hình kinh tế của lĩnh vực này lại hoàn toàn khác biệt so với trước đây. Khi các nhiếp ảnh gia dần từ bỏ phim chụp, lợi nhuận của Kodak sụt giảm nhanh chóng do hãng không thể bán đủ số lượng máy ảnh để bù đắp cho nguồn thu từ phim. Tình hình ngày càng tồi tệ hơn, buộc Kodak phải nộp đơn xin phá sản vào năm 2012 trước khi tái xuất với quy mô nhỏ hơn nhiều một năm sau đó. Dù đã nhìn thấy trước tương lai, Kodak lại không kịp thời và hiệu quả trong việc nắm bắt nó để chuyển đổi suôn sẻ từ mảng phim.

Tham khảo: The Invention Of Digital Cameras Was Almost Buried At Kodak – Here’s Why

T.M.B.

Chia sẻ: